Huyệt Kiên Ngung thuộc đường kinh nào? Đặc tính của huyệt
Huyệt Kiên Ngung có xuất xứ từ Giáp Ất Kinh. Kiên có nghĩa là vai, Ngung nghĩa là đầu xương vai. Cái tên Kiên Ngung nhằm chỉ vị trí nằm vào một góc ở đầu xương vai của huyệt.
Ngoài tên gọi thông dụng nhất này, huyệt còn được biết tới với một vài tên khác như Kiên Cốt, Biên Cốt, Thiên Cốt, Thượng Cốt, Ngung Tiêm, Thiên Kiên, Trung Kiên Tỉnh.
Kiên Cốt mang đặc tính của huyệt vị thứ 15 trên đường kinh Thủ Dương Minh Đại trường (ký hiệu LI15), đồng thời là huyệt giao hội nối liền kinh Đại Trường với kinh Tiểu trường và mạch Dương duy. Bởi vậy, huyệt phát huy tác dụng tốt trong điều trị đau tay, cánh tay, trị bán thân bất toại và các bệnh ngoài da.
Vị trí huyệt Kiên Ngung, Cách xác định huyệt
Huyệt Kiên Ngung nằm ở chỗ lõm ngoài vai, phía trước và ngoài khớp mỏm cùng vai – xương đòn. Theo giải phẫu, dưới da vùng huyệt là:
- Khe giữa bó đòn và bó cùng vai của cơ Delta, khe khớp giữa xương cánh tay và xương bả vai.
- Dây thần kinh mũ đóng vai trò là dây thần kinh vận động cơ.
- Tiết đoạn thần kinh C4 chi phối da vùng huyệt.
Cách xác định huyệt Kiên Ngung:
- Với người có chuyên môn, có thể sờ để xác định bờ trước mỏm cùng vai và và lấy huyệt ở điểm giữa mỏm cùng vai và mấu động lớn của xương cánh tay.
- Với các bệnh nhân không hiểu biết nhiều về huyệt đạo và giải phẫu, có thể xác định huyệt bằng cách đơn giản hơn như sau: dang ngang cánh tay, lúc này sẽ thấy xuất hiện 2 chỗ lõm ở đầu vai (được tạo nên bởi mỏm cùng vai và mấu động lớn xương cánh tay), lấy huyệt tại chính chỗ lõm nhỏ ở phía trước.

Vị trí huyệt Kiên Ngung.
Tác dụng huyệt Kiên Ngung
Kiên Ngung là huyệt giao hội kết nối nhiều đường kinh, phát huy các tác dụng khu phong, trục thấp, giải nhiệt và thanh tiết hỏa khí ở Dương Minh. Huyệt được ứng dụng trong điều trị các bệnh lý toàn thân, cụ thể như sau:
- Ở phạm vi tại chỗ: đau vai, đau khớp vai, đau cánh tay, đau cơ do phong thấp…
- Theo đường kinh và toàn thân: bán thân bất toại, bệnh ngoài da.
Huyệt Kiên Ngung có thể được sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp với các huyệt đạo khác để tăng cường hiệu quả và mở rộng phạm vi trị liệu. Các tài liệu YHCT ghi chép lại cách phối Kiên Ngung trị bệnh như sau:
- Phối huyệt Khúc Trì và Hợp Cốc trị chi trên liệt (theo Châm Cứu học Thượng Hải)
- Phối huyệt Bách Hội, Khúc Trì, Phát Tế, Phong Thị, Tuyệt Cốt và Túc Tam Lý để phòng ngừa trúng phong (đột quỵ) (theo Vệ Sinh Bảo Giám)
- Phối huyệt Kiên Liêu, Kiên Nội Lăng và Khúc Trì trị khớp vai viêm (theo Châm Cứu Học Thượng Hải)
- Phối huyệt Kiên Liêu và Dương Lăng Tuyền trị bao khớp dưới xương vai viêm (theo Châm Cứu Học Thượng Hải)
- Phối huyệt Đại Trữ, Phong Môn và Trung Chử trị vai và lưng sưng đau (theo Châm Cứu Đại Thành)
- Phối huyệt Âm Lăng Tuyền, Khúc Trì và Phong Thị trị thống tý (phong thấp đau nhức) (theo Trung Hoa Châm Cứu Học)
- Phối huyệt Kiên liêu, Kiên Trinh và Nhu Du trị khớp vai đau (theo Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu)
- Phối huyệt Dương Khê trị ban sởi, phong chẩn (theo Châm Cứu Tụ Anh)
- Phối huyệt Điều Khẩu, Linh Đạo, Ôn Lưu, Hạ Cự Hư và Túc Tam Lý trị nhũ ung (viêm tuyến vú làm mủ cấp tính) (theo Loại Kinh Đồ Dực)
- Cứu Kiên Ngung và Khúc Trì trị lao hạch (theo Cảnh Nhạc Toàn Thư)

YHCT thường phối hợp Kiên Ngung với các huyệt đạo khác nhằm tăng cường hiệu quả và mở rộng phạm vi trị liệu.
